Đức Tin và Thông Điệp
23 July
Upcoming Event

Học Kinh Thánh & Cầu Nguyện

New Beginning Church of AZ
days
hr
min
sec
New Beginnings Church of Arizona

Đức Tin & Thông Điệp Người Báp-tít

Baptist Faith & Message

Tuyên Ngôn Được Chấp Thuận Bởi Giáo Hội Báp-tít Nam Phương · 14 tháng 6, 2000

A Statement Adopted by The Southern Baptist Convention · June 14, 2000


Reading…

Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa cảm thúc con người viết Kinh Thánh, và nội dung của Kinh Thánh bày tỏ về chính Ngài cho nhân loại. Kinh Thánh là một kho tàng tuyệt vời thích hợp với sự dạy dỗ thiêng liêng. Kinh Thánh có Đức Chúa Trời là tác giả, có cứu cánh là sự cứu rỗi, và có nội dung là lẽ thật không chút sai lầm nào. Cho nên toàn thể Kinh Thánh là hoàn toàn xác thực và đáng tin cậy.

The Holy Bible was written by men divinely inspired and is God's revelation of Himself to man. It is a perfect treasure of divine instruction. It has God for its author, salvation for its end, and truth, without any mixture of error, for its matter. Therefore, all Scripture is totally true and trustworthy.

Kinh Thánh khải minh những phương thức mà Chúa dùng để phán xét chúng ta, và vì thế, hiện còn và sẽ còn lại cho đến khi tận thế — cái trung tâm thực sự của sự hợp nhất trong Đấng Christ, và cái tiêu chuẩn tối thượng mà theo đó tất cả hành vi, niềm tin và các ý tưởng về tôn giáo của cả nhân loại đều bị xét xử. Cả Kinh Thánh làm chứng về Đấng Christ, chính Ngài là tiêu điểm của sự minh khải thánh.

It reveals the principles by which God judges us, and therefore is, and will remain to the end of the world, the true center of Christian union, and the supreme standard by which all human conduct, creeds, and religious opinions should be tried. All Scripture is a testimony to Christ, who is Himself the focus of divine revelation.

Xuất 24:4; Phục Truyền 4:1-2; 17:19; Giô-suê 8:34; Thi Thiên 19:7-10; 119:11,89,105,140; Ê-sai 34:16; 40:8; Giê-rê-mi 15:16; 36:1-2; Ma-thi-ơ 5:17-18; 22:29; Lu-ca 21:33; 24:44-46; Giăng 5:39; 16:13-15; 17:17; II Ti-mô-thê 3:15-17; Hê-bơ-rơ 1:1-2; 4:12; I Phi-e-rơ 1:25; II Phi-e-rơ 1:19-21.

Chỉ có duy nhất một Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa sống và chân thật. Ngài là một Thực Thể thông huệ, thiêng liêng và có cá tính, là Đấng Sáng Tạo, Đấng Cứu Chuộc, là Đấng Bảo Tồn, và là Đấng Cai Quản cả hoàn vũ. Đức Chúa Trời là Chúa Ba Ngôi hằng hữu bày tỏ chính Ngài cho chúng ta qua Ngôi Chúa Cha, Ngôi Chúa Con và Ngôi Chúa Thánh Linh.

There is one and only one living and true God. He is an intelligent, spiritual, and personal Being, the Creator, Redeemer, Preserver, and Ruler of the universe. The eternal triune God reveals Himself to us as Father, Son, and Holy Spirit, with distinct personal attributes but without division of nature, essence, or being.

A. Đức Chúa Cha

A. God the Father

Trong ngôi Đức Chúa Cha, Ngài quản trị và bảo phòng chăm sóc vũ trụ cùng các loài thọ tạo của Ngài. Ngài là Cha trong lẽ thật đối với những ai trở nên con cái của Ngài qua đức tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ.

God as Father reigns with providential care over His universe, His creatures, and the flow of history. He is Father in truth to those who become children of God through faith in Jesus Christ.

B. Đức Chúa Con

B. God the Son

Đấng Christ là con đời đời của Đức Chúa Trời. Ngài đã nhập thể thành Chúa Jêsus bởi Thánh Linh, sinh ra bởi nữ đồng trinh Ma-ri. Ngài đã chuẩn bị sự cứu chuộc loài người khỏi tội lỗi qua sự chết thế trên thập tự giá. Ngài được phục sinh, thăng thiên về trời và sẽ trở lại trong quyền năng và vinh hiển.

Christ is the eternal Son of God. He was conceived of the Holy Spirit and born of the virgin Mary. Through His death on the cross He made provision for the redemption of men from sin. He was raised bodily from the dead, ascended into heaven, and will return in power and glory.

C. Đức Thánh Linh

C. God the Holy Spirit

Đức Thánh Linh là thần linh của Đức Chúa Trời, là Đấng hoàn toàn thiêng liêng. Ngài cảm tác các thánh nhân ngày xưa để viết nên Kinh thánh. Ngài kêu gọi mọi người đến với Đấng Cứu Rỗi và thực hiện sự tái sinh. Ngài vun đắp đặc tính của Đấng Christ trong lòng tín hữu.

The Holy Spirit is the Spirit of God, fully divine. He inspired holy men of old to write the Scriptures. He calls sinners to the Saviour and effects regeneration. He cultivates Christian character in the believer and gives spiritual gifts to the church.

Sáng Thế Ký 1:1; 2:7; Xuất 3:14; Ma-thi-ơ 1:18-23; 3:17; 28:19; Giăng 1:1-18; 14:16-17; Rô-ma 8:14-16; I Cô-rinh-tô 8:6; II Cô-rinh-tô 13:14; Ga-la-ti 4:4-6; Ê-phê-sô 4:6; Hê-bơ-rơ 1:1-3; II Phi-e-rơ 1:21.

Con người là một tạo vật đặc biệt của Đức Chúa Trời, được dựng nên theo hình ảnh của chính Ngài. Thoạt đầu, con người trong trắng đối với tội lỗi và được Đấng Sáng Tạo ban cho quyền tự do chọn lựa. Bởi được tự do chọn lựa mà con người phạm tội cùng Chúa và đưa tội lỗi vào dòng dõi loài người.

Man is the special creation of God, made in His own image. He created them male and female as the crowning work of His creation. The gift of gender is thus part of the goodness of God's creation. In the beginning man was innocent of sin and was endowed by his Creator with freedom of choice. By his free choice man sinned against God and brought sin into the human race.

Chỉ có ân điển Chúa mới có thể đem con người vào sự tương giao thánh khiết với Ngài. Nhân cách thánh khiết của con người là điều hiển nhiên vì lẽ Chúa đã sáng tạo con người theo hình ảnh Ngài, và vì Đấng Christ đã chết thay cho con người.

Only the grace of God can bring man into His holy fellowship and enable man to fulfill the creative purpose of God. The sacredness of human personality is evident in that God created man in His own image, and in that Christ died for man.

Sáng Thế Ký 1:26-30; 2:5,7,18-22; 3; Thi Thiên 1; 8:3-6; 32:1-5; 51:5; Ê-sai 6:5; Rô-ma 1:19-32; 3:10-18,23; 5:6,12,19; I Cô-rinh-tô 1:21-31; 15:19,21-22; Ê-phê-sô 2:1-22; Cô-lô-se 1:21-22; 3:9-11.

Sự Cứu Rỗi bao gồm sự mua chuộc con người trọn vẹn, và được tặng không cho những ai tiếp nhận Chúa Jêsus Christ làm Đấng Cứu Rỗi. Không thể có sự cứu chuộc nào ngoài niềm tin cá nhân vào Chúa Jêsus Christ là Chúa của mình.

Salvation involves the redemption of the whole man, and is offered freely to all who accept Jesus Christ as Lord and Saviour. There is no salvation apart from personal faith in Jesus Christ as Lord.

A. Sự Tái Sinh

A. Regeneration

Sự tái sinh là một việc do ân điển Chúa, bởi đó những người tín hữu trở nên những tạo vật mới trong Chúa Jêsus Christ. Đây là việc Đức Thánh Linh làm cho người có tội thay đổi tấm lòng qua sự ăn năn và đặt đức tin trong Đức Chúa Jêsus Christ.

Regeneration, or the new birth, is a work of God's grace whereby believers become new creatures in Christ Jesus. It is a change of heart wrought by the Holy Spirit through repentance toward God and faith in the Lord Jesus Christ.

B. Sự Tuyên Công Chính

B. Justification

Sự Tuyên Công Chính là sự tha thứ đầy ân điển và trọn vẹn của Chúa đối với tội nhân biết ăn năn và tin nhận Đấng Christ. Nó đem người tín hữu vào mối liên hệ bình an và được ơn đối với Chúa.

Justification is God's gracious and full acquittal upon principles of His righteousness of all sinners who repent and believe in Christ. It brings the believer into a relationship of peace and favor with God.

C. Sự Thánh Hóa

C. Sanctification

Sự Thánh Hóa là kinh nghiệm bắt đầu bằng sự tái sinh, theo đó người tín hữu được dành riêng cho những mục đích của Chúa và có khả năng dần dần trưởng thành về đạo đức qua sự hiện diện của Đức Thánh Linh.

Sanctification is an experience beginning in regeneration by which the believer is set apart to God's purposes and enabled to progress toward moral and spiritual maturity through the presence and power of the Holy Spirit dwelling in him.

D. Sự Tôn Vinh Hiển

D. Glorification

Sự Tôn Vinh Hiển là tuyệt đỉnh của sự cứu rỗi và là tình trạng phước hạnh và tồn tại lâu dài của người được cứu chuộc.

Glorification is the culmination of salvation and is the final blessed and abiding state of the redeemed.

Sáng 3:15; Ma-thi-ơ 1:21; 4:17; Giăng 1:11-14; 3:3-21; 5:24; 10:9,28-29; Công Vụ 2:21; 4:12; Rô-ma 1:16-18; 3:23-25; 5:8-10; 6:1-23; 8:1-18; I Cô-rinh-tô 1:18; Ê-phê-sô 2:8-22; I Phi-e-rơ 1:2-23; Khải Huyền 3:20; 21:1-22:5.

Sự tuyển chọn là mục đích ân điển của Chúa, bởi đó Ngài làm cho tội nhân được tái sinh, được xưng công chính, nên thánh, và vinh hiển. Điều đó phù hợp với năng lực tự do của nhân loại. Sự lựa chọn bày tỏ một cách vinh hiển về sự tốt lành tuyệt đối của Chúa và sự khôn ngoan vô cùng của Ngài.

Election is the gracious purpose of God, according to which He regenerates, justifies, sanctifies, and glorifies sinners. It is consistent with the free agency of man. Election in no way involves approval of sin or of the sinner. It is the glorious display of God's sovereign goodness, and is infinitely wise, holy, and unchangeable.

Tất cả những tín hữu chân chính phải nhẫn nhục cho đến cuối cùng. Người nào được Chúa thừa nhận trong Đấng Christ sẽ không bao giờ bị mất phần ân điển, nhưng sẽ được bảo toàn cho đến cuối cùng.

All true believers endure to the end. Those whom God has accepted in Christ and sanctified by His Spirit will never fall away from the state of grace, but shall persevere to the end. Believers may fall into sin but shall be kept by the power of God through faith unto salvation.

Sáng 12:1-3; Ma-thi-ơ 16:18-19; 24:22,31; 25:34; Giăng 1:12-14; 3:16; 5:24; 6:44-45; 10:27-29; 15:16; 17:6,12; Rô-ma 8:28-39; 11:5-7; I Cô-rinh-tô 1:1-2; Ê-phê-sô 1:4-23; 2:1-10; I Giăng 1:7-9; 2:19; 3:2.

Một Hội Thánh Tân Ước của Chúa Jêsus Christ là một hội chúng địa phương tự quản của những tín hữu đã chịu phép báp têm, liên hiệp với nhau bởi giao ước trong đức tin và tương giao của Phúc Âm. Mỗi hội chúng điều hành dưới chủ quyền của Đấng Christ thông qua các thể thức dân chủ. Các chức viên của Hội Thánh là các mục sư và chấp sự theo Kinh Thánh qui định.

A New Testament church of the Lord Jesus Christ is an autonomous local congregation of baptized believers, associated by covenant in the faith and fellowship of the gospel. Each congregation operates under the Lordship of Christ through democratic processes. Such a congregation's scriptural officers are pastors and deacons.

Kinh Thánh Tân Ước cũng dạy rằng Hội Thánh là Thân Thể của Đấng Christ bao gồm tất cả những người được cứu trong mọi thời đại, các tín hữu của từng bộ tộc, từng ngôn ngữ, từng dân tộc và từng quốc gia.

The New Testament speaks also of the church as the Body of Christ which includes all of the redeemed of all the ages, believers from every tribe, and tongue, and people, and nation.

Ma-thi-ơ 16:15-19; 18:15-20; Công Vụ 2:41-42,47; 5:11-14; 6:3-6; 14:23,27; 15:1-30; Rô-ma 1:7; I Cô-rinh-tô 1:2; 3:16; 5:4-5; Ê-phê-sô 1:22-23; 2:19-22; 3:8-11; 5:22-32; Phi-líp 1:1; Cô-lô-se 1:18; I Ti-mô-thê 2:9-14; 3:1-15; Hê-bơ-rơ 11:39-40; Khải Huyền 2-3; 21:2-3.

Lễ Báp-têm là phép dầm một tín hữu dưới nước, nhân danh Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh. Đây là một sự tuân phục, tượng trưng cho đức tin của người ấy đối với Chúa Cứu Thế bị đóng đinh, được chôn và sống lại. Phép báp-têm là điều kiện tiên quyết để được nhận các đặc ân của một hội viên và để có thể dự lễ Tiệc Thánh.

Christian baptism is the immersion of a believer in water in the name of the Father, the Son, and the Holy Spirit. It is an act of obedience symbolizing the believer's faith in a crucified, buried, and risen Saviour. Being a church ordinance, it is prerequisite to the privileges of church membership and to the Lord's Supper.

Lễ Tiệc Thánh là một hành động tượng trưng cho sự vâng lời, bởi đó qua việc dự phần với bánh và nước nho, những thuộc viên của Hội Thánh ghi nhớ sự chết của Đấng Cứu Chuộc và trông đợi sự tái lâm của Ngài.

The Lord's Supper is a symbolic act of obedience whereby members of the church, through partaking of the bread and the fruit of the vine, memorialize the death of the Redeemer and anticipate His second coming.

Ma-thi-ơ 3:13-17; 26:26-30; 28:19-20; Mác 1:9-11; 14:22-26; Lu-ca 3:21-22; 22:19-20; Giăng 3:23; Công Vụ 2:41-42; 8:35-39; 16:30-33; 20:7; Rô-ma 6:3-5; I Cô-rinh-tô 10:16,21; 11:23-29; Cô-lô-se 2:12.

Ngày đầu trong tuần lễ là Ngày Chúa Nhựt. Ngày Chúa Nhựt kỷ niệm sự sống lại của Đấng Christ sau khi chết và cần phải thực hành nghi lễ thờ phượng và tôn kính, ở chỗ công cộng lẫn riêng tư. Những sinh hoạt trong Ngày Chúa Nhựt cần xứng hiệp với lương tâm của tín hữu dưới quyền quản trị của Chúa Jêsus Christ.

The first day of the week is the Lord's Day. It is a Christian institution for regular observance. It commemorates the resurrection of Christ from the dead and should include exercises of worship and spiritual devotion, both public and private. Activities on the Lord's Day should be commensurate with the Christian's conscience under the Lordship of Jesus Christ.

Xuất 20:8-11; Ma-thi-ơ 12:1-12; 28:1; Mác 2:27-28; 16:1-7; Lu-ca 24:1-3,33-36; Giăng 4:21-24; 20:1,19-28; Công Vụ 20:7; Rô-ma 14:5-10; I Cô-rinh-tô 16:1-2; Cô-lô-se 2:16; 3:16; Khải Huyền 1:10.

Vương Quốc của Thiên Chúa bao hàm hai ý nghĩa: chủ quyền tổng quát của Ngài trên vũ trụ và đặc biệt là vương quyền của Ngài trên những con người sẵn lòng nhận Ngài làm Vua của đời mình. Đặc biệt Vương Quốc là cõi cứu rỗi mà mỗi người có thể đi vào do lòng tin tưởng cam kết tin cậy đơn sơ như con trẻ đến với Chúa Jêsus Christ. Sự thành toàn của Vương Quốc là khi Chúa Jêsus Christ tái lâm và thời đại này kết thúc.

The Kingdom of God includes both His general sovereignty over the universe and His particular kingship over men who willfully acknowledge Him as King. In its most profound sense, the Kingdom is the realm of salvation into which men enter by trustful, childlike commitment to Jesus Christ. When Christ returns, the Kingdom will be consummated.

Sáng 1:1; Ê-sai 9:6-7; Ma-thi-ơ 3:2; 4:8-10; 12:25-28; 13:1-52; 25:31-46; Mác 1:14-15; Lu-ca 4:43; 8:1; 12:31-32; Giăng 3:3; 18:36; Rô-ma 5:17; 8:19; I Cô-rinh-tô 15:24-28; Cô-lô-se 1:13; Hê-bơ-rơ 11:10,16; 12:28; Khải Huyền 1:6,9; 5:10; 11:15; 21-22.

Đức Chúa Trời, theo thời điểm và theo cách riêng của Ngài, sẽ chấm dứt thế gian một cách đúng hạn. Đích thân Chúa Jêsus Christ sẽ trở lại trái đất và người ta sẽ trông thấy Ngài trong vinh quang; những người chết sẽ được cho sống lại, và Đấng Christ sẽ phán xét mọi người trong sự công chính.

God, in His own time and in His own way, will bring the world to its appropriate end. According to His promise, Jesus Christ will return personally and visibly in glory to the earth; the dead will be raised; and Christ will judge all men in righteousness.

Những người bất chính sẽ bị giam giữ ở Địa Ngục, là nơi hình phạt đời đời. Còn những người công chính sẽ được sống lại với thân thể trong vinh quang, sẽ nhận được phần thưởng và ở đời đời trên Thiên Đàng với Chúa.

The unrighteous will be consigned to Hell, the place of everlasting punishment. The righteous in their resurrected and glorified bodies will receive their reward and will dwell forever in Heaven with the Lord.

Ê-sai 2:4; 11:9; Ma-thi-ơ 16:27; 18:8-9; 19:28; 24:27,30,36,44; 25:31-46; Mác 8:38; 9:43-48; Lu-ca 12:40,48; 16:19-26; Giăng 14:1-3; Công Vụ 1:11; 17:31; Rô-ma 14:10; I Cô-rinh-tô 15:24-28,35-58; II Cô-rinh-tô 5:10; Phi-líp 3:20-21; I Tê-sa-lô-ni-ca 4:14-18; Hê-bơ-rơ 9:27-28; Khải Huyền 1:18; 3:11; 20:1-22:13.

Bổn phận và đặc ân của mỗi cá nhân theo Chúa và mỗi Hội Thánh là nỗ lực khiến các dân thành môn đồ của Ngài. Chúa Jêsus Christ truyền bảo phải truyền giảng Tin Mừng cho hết thảy các nước. Mỗi con cái Chúa có bổn phận phải luôn tìm cơ hội đem những người hư mất về với Ngài với lời làm chứng.

It is the duty and privilege of every follower of Christ and of every church of the Lord Jesus Christ to endeavor to make disciples of all nations. It is the duty of every child of God to seek constantly to win the lost to Christ by verbal witness undergirded by a Christian lifestyle.

Sáng 12:1-3; Ê-sai 6:1-8; Ma-thi-ơ 9:37-38; 10:5-15; 24:14; 28:18-20; Lu-ca 10:1-18; 24:16-53; Giăng 14:11-12; 15:7-8,16; 17:15; 20:21; Công Vụ 1:8; 2; 8:26-40; 10:42-48; 13:2-3; Rô-ma 10:13-15; Ê-phê-sô 3:1-11; II Ti-mô-thê 4:5; Hê-bơ-rơ 2:1-3; Khải Huyền 22:17.

Cứu Chúa Giáo có niềm tin của sự hiểu biết và sự sáng suốt. Trong Chúa Jêsus Christ có cả mọi kho tàng của khôn ngoan và hiểu biết. Sự tái sinh mở rộng tất cả năng lực của con người và tạo ra sự khao khát về kiến thức. Một hệ thống giáo dục tín hữu đầy đủ là cần thiết cho một chương trình thuộc linh hoàn bị cho con dân Chúa.

Christianity is the faith of enlightenment and intelligence. In Jesus Christ abide all the treasures of wisdom and knowledge. The new birth opens all human faculties and creates a thirst for knowledge. An adequate system of Christian education is necessary to a complete spiritual program for Christ's people.

Phục Truyền 4:1,5,9,14; 6:1-10; Châm Ngôn 3:13; 4:1-10; 8:1-7; Ma-thi-ơ 5:2; 7:24; 28:19-20; I Cô-rinh-tô 1:18-31; Ê-phê-sô 4:11-16; Cô-lô-se 2:3,8-9; II Ti-mô-thê 2:15; 3:14-17; Hê-bơ-rơ 5:12-6:3; Gia-cơ 1:5; 3:17.

Đức Chúa Trời là nguồn của tất cả những phước hạnh, trong cõi tạm cũng như cõi tâm linh đều thuộc về Ngài. Cứu Chúa Nhân có trách nhiệm quản gia về tài sản của họ. Cho nên họ phải phục vụ Đấng Tạo Hóa bằng thời gian, năng lực và của cải vật chất. Kinh Thánh dạy tín hữu phải dâng hiến tài nguyên cho sự tiến triển của mục đích Đấng Cứu Chuộc một cách vui lòng, đều đặn, hệ thống, tương xứng, và rời rộng.

God is the source of all blessings, temporal and spiritual; all that we have and are we owe to Him. Christians are under obligation to serve Him with their time, talents, and material possessions. According to the Scriptures, Christians should contribute cheerfully, regularly, systematically, proportionately, and liberally for the advancement of the Redeemer's cause on earth.

Sáng 14:20; Lê-vi 27:30-32; Phục Truyền 8:18; Ma-la-chi 3:8-12; Ma-thi-ơ 6:1-4; 19:21; 23:23; 25:14-29; Lu-ca 12:16-21; 16:1-13; Công Vụ 2:44-47; 5:1-11; Rô-ma 12:1-2; I Cô-rinh-tô 4:1-2; 6:19-20; 12; 16:1-4; II Cô-rinh-tô 8-9; Phi-líp 4:10-19; I Phi-e-rơ 1:18-19.

Những Con Dân Chúa khi cần nên tổ chức các hiệp hội và nghị hội để bảo đảm tốt nhất cho sự hợp tác vì các mục tiêu lớn của Vương Quốc Chúa. Các tổ chức như thế không có quyền hạn đối với nhau, cũng như không có quyền trên các Hội Thánh. Sự hiệp nhất của Cứu Chúa Nhân trong ý nghĩa Tân Ước là sự hòa hợp thuộc linh và tình nguyện hợp tác của các nhóm con cái Chúa vì các mục tiêu chung.

Christ's people should organize such associations and conventions as may best secure cooperation for the great objects of the Kingdom of God. Such organizations have no authority over the churches. They are voluntary and advisory bodies. Christian unity in the New Testament sense is spiritual harmony and voluntary cooperation for common ends by various groups of Christ's people.

Xuất 17:12; 18:17; Ma-thi-ơ 10:5-15; 20:1-16; 22:1-10; 28:19-20; Công Vụ 1:13-14; 2:1; 4:31-37; 13:2-3; 15:1-35; I Cô-rinh-tô 1:10-17; 3:5-15; 12; II Cô-rinh-tô 8-9; Ga-la-ti 1:6-10; Ê-phê-sô 4:1-16; Phi-líp 1:15-18.

Tất cả Con Dân Chúa có bổn phận phải tìm cách làm cho ý chỉ Đấng Christ trở nên tối thượng trong đời sống của chính mình và trong xã hội loài người. Cứu Chúa Nhân phải chống lại sự kỳ thị chủng tộc, mọi hình thức tham lam, ích kỷ và thói xấu. Chúng ta phải làm việc để trợ giúp những trẻ mồ côi, người thiếu thốn, kẻ bị hà hiếp, người già cả, kẻ không có nơi nương tựa, và các bệnh nhân.

All Christians are under obligation to seek to make the will of Christ supreme in our own lives and in human society. Christians should oppose racism, every form of greed, selfishness, and vice, and all forms of sexual immorality. We should work to provide for the orphaned, the needy, the abused, the aged, the helpless, and the sick.

Xuất 20:3-17; Lê-vi 6:2-5; Phục Truyền 10:12; 27:17; Thi Thiên 101:5; Mi-chê 6:8; Ma-thi-ơ 5:13-16,43-48; 22:36-40; 25:35; Mác 1:29-34; Lu-ca 4:18-21; 10:27-37; 20:25; Giăng 15:12; 17:15; Rô-ma 12-14; Gia-cơ 1:27; 2:8.

Bổn phận của con dân Chúa là tìm sự hòa bình với tất cả mọi người trên những nguyên tắc công chính. Phương thuốc chân chính để chấm dứt tinh thần thù địch là Phúc Âm của Chúa chúng ta. Cứu Chúa Nhân khắp thế giới cần phải cầu nguyện cho quyền tể trị của Chúa Hòa Bình.

It is the duty of Christians to seek peace with all men on principles of righteousness. The true remedy for the war spirit is the gospel of our Lord. Christian people throughout the world should pray for the reign of the Prince of Peace.

Ê-sai 2:4; Ma-thi-ơ 5:9,38-48; 6:33; 26:52; Lu-ca 22:36,38; Rô-ma 12:18-19; 13:1-7; 14:19; Hê-bơ-rơ 12:14; Gia-cơ 4:1-2.

Chỉ có một mình Đức Chúa Trời Đấng Tạo Hóa là Chúa của lương tâm, và Ngài khiến cho lương tâm không bị trói buộc bởi các học thuyết và giới luật của loài người đi ngược lại với Lời Ngài. Giáo quyền phải được biệt riêng khỏi chính quyền. Nhà nước có nhiệm vụ che chở và để cho mỗi Hội Thánh được hoàn toàn tự do trong khi theo đuổi những mục tiêu tâm linh.

God alone is Lord of the conscience, and He has left it free from the doctrines and commandments of men which are contrary to His Word. Church and state should be separate. The state owes to every church protection and full freedom in the pursuit of its spiritual ends. A free church in a free state is the Christian ideal.

Sáng 1:27; 2:7; Ma-thi-ơ 6:6-7,24; 16:26; 22:21; Giăng 8:36; Công Vụ 4:19-20; Rô-ma 6:1-2; 13:1-7; Ga-la-ti 5:1,13; Phi-líp 3:20; I Ti-mô-thê 2:1-2; Gia-cơ 4:12; I Phi-e-rơ 2:12-17; 3:11-17; 4:12-19.

Đức Chúa Trời đã thiết lập gia đình như là một định chế căn bản của xã hội loài người. Hôn Nhân là kết hợp một người nam và một người nữ trong một giao ước trọn đời. Đây là quà tặng duy nhất của Đấng Tạo Hóa để bày tỏ sự liên hiệp giữa Đấng Christ và Hội thánh Ngài.

God has ordained the family as the foundational institution of human society. Marriage is the uniting of one man and one woman in covenant commitment for a lifetime. It is God's unique gift to reveal the union between Christ and His church.

Trước mặt Đấng Tạo Hóa, vợ chồng có giá trị ngang nhau. Người chồng có trách nhiệm Chúa giao trong sự chu cấp, bảo vệ và hướng dẫn gia đình. Con cái, ngay từ lúc hoài thai, là một phước lành và là gia tài Chúa ban cho. Cha mẹ cần phải dạy cho con cái về những giá trị tinh thần và luân lý.

The husband and wife are of equal worth before God. A husband is to love his wife as Christ loved the church. He has the God-given responsibility to provide for, to protect, and to lead his family. Children, from the moment of conception, are a blessing and heritage from the Lord. Parents are to teach their children spiritual and moral values.

Sáng 1:26-28; 2:15-25; 3:1-20; Xuất 20:12; Phục Truyền 6:4-9; Giô-suê 24:15; Thi Thiên 51:5; 78:1-8; 127; 128; 139:13-16; Châm Ngôn 1:8; 5:15-20; 12:4; 13:24; 18:22; 22:6,15; Ma-thi-ơ 5:31-32; 18:2-5; 19:3-9; Mác 10:6-12; Rô-ma 1:18-32; I Cô-rinh-tô 7:1-16; Ê-phê-sô 5:21-33; 6:1-4; Cô-lô-se 3:18-21; Hê-bơ-rơ 13:4; I Phi-e-rơ 3:1-7.